Archive : Category

Thịt Lợn Rừng Nướng Lá Móc Mật – Các món ngon từ Lợn Rừng

POSTED ON April 21st  - POSTED IN TIN TỨC

Loạt bài: Các món ngon từ thịt lợn rừng – Thu Hà Biên Tập

Thịt lợn rừng là đặc sản được nhiều người ưa chuộng, bởi hương vị đặc biệt giòn, thơm.

Hôm nay, trang trại lợn rừng Sinh Học Cẩm Đình tiếp tục biên tập những món ăn ngon từ lợn rừng.

Nguyên liệu cần chuẩn bị: ( dành cho 4 người ăn )

Ảnh 1 Thịt Lợn Rừng Nướng Lá Móc Mật   Các món ngon từ Lợn Rừng

Món ăn từ thịt lợn rừng

– Thịt: Khoảng 0.5 kg Thịt lợn rừng ba chỉ

– Gia vị: Riềng, sả, mẻ, mắm tôm, hạt dổi,

– mật ong, nước mắm, rượu trắng, , dầu ăn, lá móc mật.  

Thực hiện:

Bước 1 : Miếng thịt lợn rừng rửa sạch, để ráo nước trong vài phút, đem lên thớt và thái nhỏ thành các miếng vuông, khoảng 2x2cm. Riềng các bạn đem xay nhuyễn, sả rửa sạch, sau đó băm nhỏ, lá móc mật rửa sạch.

 

Bước 2 : Ướp thịt lợn rừng đã thái với hỗn hợp nước riềng xay, sả, mắm tôm, mẻ, mật ong, nước mắm, rượu trắng, dầu ăn, hạt dổi, lá móc mật , để nguyên như vậy khoảng 1-2 tiếng cho gia vị ngấm đều vào thịt. 

Bước 3 : Xếp miếng  thịt lợn rừng đã được ướp lên vỉ nướng,hoặc xiên nướng, lá móc mật trộn cùng hoặc bọc ngoài miếng thịt, một điểm lưu ý đó là các bạn nên nướng thịt trên than hoa,như vậy thịt sẽ thơm hơn, trong quá trình nướng, vừa nướng các bạn vừa tưới dầu ăn hoặc mỡ lên trên mặt sẽ làm thịt đỡ bị khô, lật đều tay cả 2 mặt để thịt có thể chín đều. Nướng đến khi thấy thịt có màu vàng đều, có mùi thơm và hơi xém cạnh là đã chín.

Ảnh 3 Thịt Lợn Rừng Nướng Lá Móc Mật   Các món ngon từ Lợn Rừng

Thịt Nướng Lá Móc mật

Thưởng thức :

Bày món ăn ra đĩa, ăn ngay khi còn nóng để cảm nhận độ mềm của thịt và mùi thơm của lá móc mật, ngon hơn khi chấm với nước xì dầu tỏi ớt.

Chúc các bạn ngon miệng.

Đặc Điểm Sự Sinh Sản Của Lợn Rừng Lai

POSTED ON November 14th  - POSTED IN TIN TỨC

Đặc Điểm Sự Sinh Sản Của Lợn Rừng Lai

Trong thời kỳ sinh sản ta phải có cách chăm sóc kỹ lợn rừng lai nếu muốn chúng có thể sinh sản tốt. Việc cung cấp thức ăn cho chúng no đủ bằng việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hàng ngày cho chúng là điều mà chúng tôi muốn hướng dẫn kỹ.

Như chúng ta đã biết, nếu lợn cái sung mãn thì tử noãn mới phát triển điều hòa, mỗi kỳ động dục sẽ có nhiều trứng rụng dẫn đến lứa đẻ được nhiều con (từ 6-7 con trở lên). Ngược lại, nếu lợn cái ốm yếu thì kỳ động dục số tử noãn rụng xuống tử cung ít thì lứa đẻ đó sẽ đẻ it con (có thể 1-2 con). Còn lợn rừng đực nếu các bạn nuôi cho ăn thất thường dẫn đến sức yếu thì tinh dịch sẽ chứa ít tinh trùng hoặc tinh trùng yếu dẫn đến việc phối giống không đậu thai.

Lưu ý, chúng ta không vì vậy để cho lợn rừng đực và lợn rừng cái trở nên mập ú vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc phối giống, nếu lợn đực thì chậm chạp lười biếng còn lợn cái thì đến kỳ động dục mà mập ú dẫn tới trứng sẽ bị mỡ bao bọc, hiển nhiên rụng xuống tử cung không nhiều, dẫn đến đẻ ít con.

Tuổi động dục của lợn rừng lai khi ta nuôi nhốt thường đến chậm hơn một vài tháng, mặc dù vậy không ai lại cho lợn phối ngay từ đầu mà đợi đến khi lợn cái đủ già dặn thì mới cho sinh sản. Chu kỳ động dục của lợn rừng khoảng 21 ngày, trong thời gian động dục kéo dài 3 đến 5 ngày, nhưng phải biết canh sao cho đúng lúc để phối giống có hiệu quả.

Triệu chứng lợn rừng lai sắp đẻ

(thời gian lợn rừng lai mang thai khoảng 115 ngày nếu trồi sụt vài ngày cũng thường)

  • Cơn đau bụng càng tăng lợn bắt đầu ủi phá máng ăn máng uống hất tung thức ăn còn thừa
  • Heo tỏ ra mệt mỏi thường nằm, thỉnh thoảng lại đi tới đi lui
  • Khoảng một vài ngày trước khi đẻ, bầu vú lợn căng lớn và bắt đầu có sữa non
  • Trước đó vài ngày âm hộ của lợn sưng mọng đỏ lên.

Phương pháp chọn lợn rừng lai giữ lại làm giống

Chọn giống đúng là việc lựa chọn và giữ làm giống những con đạt tiêu chuẩn về phẩm chất giống. Như (dòng, giống bố mẹ, ông bà) về ngoại hình, khả năng thích nghi, khả năng sản xuất,…

 

Hướng dẫn cách chăm sóc lợn lai sau khi sinh con

Nếu trong suốt thời gian mang thai mà được nuôi cận thận, ăn uống đủ dinh dưỡng, lại không vướng phải một bệnh tật gì thì đa số lợn con sau khi sinh đều khỏe mạnh.

Chọn giống tốt được thực hiện thông qua quan sát ngoại hình, xem xét các số liệu ghi chép theo dõi về sinh trưởng, sinh sản của cá thể, của cha mẹ anh chị em để quyết định chọn giữ lại những cá thể phù hợp để nuôi thịt hay làm nái, nọc giống.

Tiêu chí chọn lợn sinh sản là chọn những con có tính tình hiền lành, khỏe mạnh, đầu thanh, ngực sâu, lưng thẳng, bụng to vừa phải, hông rộng, lông mịn, bốn chân chắc khoẻ, bộ phận sinh dục phát triển, không mắc bệnh truyền nhiễm hay ký sinh trùng. Hình dáng bên ngoài và sự cấu tạo cơ thể phù hợp với đặc điểm giống và mục đích sinh sản. Nếu có điều kiện nên chọn lọc qua đời trước (dòng, giống bố mẹ, ông bà) về ngoại hình, khả năng thích nghi, khả năng sản xuất,…. Mặc dù thế, muốn chọn lọc được giống tốt phải tlợn dõi, lập sổ lý lịch, gắn số tai (nếu có thể) hoặc lập phiếu cá thể gắn trên chuồng để tlợn dõi năng suất cá thể.

Chọn lợn cái giống

Cái hậu bị mua lúc 4 – 6 tháng tuổi. Từ đàn cái hậu bị này sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá, chọn lọc giữ lại làm nái sinh sản.

Chọn lọc nái sinh sản không có khuyết tật, để không ảnh hưởng tới khả năng sinh sản và nuôi con. Cần quan tâm tới 3 bộ phận: cơ quan sinh dục, vú và khung xương. Thông thường, nái được chọn cần đạt được những yêu cầu tối thiểu như sau: toàn đàn hậu bị có cơ quan sinh dục phát triển Thông thường cả về hình thể và hoạt động, khung xương và 4 chân chắc, khỏe, nhanh nhẹn và linh hoạt, số con đẻ ra/lứa cao, lợn mẹ không ăn con và có số vú đủ để nuôi đàn con đông, bình thường lợn rừng lai có 5 đôi vú xếp đồng đều mỗi bên, những nái có vú cong vênh, khô hoặc kẹ sẽ không được chọn.

Cách chọn lợn đực giống

Chọn và mua về lúc 6 tháng tuổi

Bắt đầu khai thác khi đạt 7 – 8 tháng tuổi
Phải mang những đặc điểm giống tốt đặc trưng cho loài: đầu thanh, mặt dài, lưng thẳng, bụng thon không sệ, 4 chân cao, thẳng và vững chắc, lông bờm dựng đứng chạy dài từ cổ tới lưng, tinh hoàn lộ rõ, to và cân đối, độ đàn hồi tốt, số con đẻ ra có tỷ lệ nuôi sống cao, mang tính “hoang dã”, dữ tợn.

Tỉ lệ lợn cái/đực là 5:1 đối với đực trưởng thành và 3:1 đối với đực dưới 1 năm tuổi.

(Bài viết có tham khảo nguồn tài liệu trên mạng Internet)

Tập Tính Sinh Hoạt Của Lợn Rừng

POSTED ON November 13th  - POSTED IN TIN TỨC

Một Số Tập Tính Sinh Hoạt Của Lợn Rừng

Tập tính đi lại

Đối với lợn rừng con: thì từ 1-3 ngày tuổi lợn thích nằm chỗ kín và ấm (dù mùa hè thì lợn vẫn thích chui vào rác hoặc nơi có nhiệt độ cao), hầu hết thời gian dành riêng cho ngủ, ngoài thời gian bú mẹ. Từ ngày thứ 4 trở đi lợn rừng con thường chơi đùa ra nơi có ánh nắng, đặc biệt khi thời tiết nóng nực thì chúng thích vầy nơi có nước hoặc bùn. Đối với lợn trưởng thành thì chúng thích cà người vào thân cây hoặc bờ tường, bờ rào và thích gặm vỏ thân cây (động tác mài răng nanh).

Đối với lợn rừng mẹ: Lợn rừng giống lợn nhà ở chỗ, sau khi ăn no đều nằm nghỉ sau đó mới dành thời gian cho nô đùa. Thời gian đi lại trong ngày nhiều hơn thời gian ngủ nghỉ, đặc biệt là lợn trưởng thành và lợn đực: Thời gian hoạt động nhiều nhất trong ngày vào lúc từ 7giờ30 đến 10giờ30, và từ 14giờ30 đến 17 giờ. Thời gian nghỉ, ngủ thường tập trung vào trưa từ 11giờ30 đến 13giờ30 và vào ban đêm.

 

 

tap tinh sinh hoat lon rung 1024x682 Tập Tính Sinh Hoạt Của Lợn Rừng

Tập quán sinh hoạt của lợn rừng

 

Tìm kiếm thức ăn

Lợn rừng thích đào bới, tìm kiếm thức ăn trong lòng đất, thích ăn những thức ăn cứng như hạt, củ, quả, gặm thân các loại cây, đặc biệt là rất thích ăn mía, gốc cỏ voi non, thân cây ngô non, bèo tây, cây cỏ, rau các loại… Chúng thường ăn lai rai cả ngày, không ăn tập trung như lợn nhà và ăn khô không thích ăn nước (ăn riêng, uống riêng).

Uống nước

Đối với lợn con chúng thích liếm láp những nơi có nước (chính lý do này mà thời kỳ bú sữa mẹ hay mắc chứng ỉa chảy). Lợn choai và lợn trưởng thành chúng đều thích uống nước tự do, chúng không thích uống nước vòi, nhưng khi đưa vòi vào thì chúng cũng rất nhanh thích nghi vì phù hợp với tính tò mò của chúng.

Tập tính bầy đàn

Đặc điểm chung của lợn con , lợn trưởng thành là chúng rất thích sống theo bầy đàn đông. Đến thời kỳ sinh sản thì tính gia đình được bảo thủ cao. Trong trường hợp nếu một con đẻ trong bầy đàn thì lập tức bị bầy đàn cắn chết ngay. Vì vậy, khi đến ngày sinh con thì lợn mẹ thường tách đàn để đi làm ổ đẻ nơi khác, trong trường hợp đàn đông thì chúng thường tách xa đàn để đi làm ổ đẻ và khi con lớn mới tham gia nhập đàn, nhằm bảo toàn cho con của chúng. Trong trường hợp hai ổ đẻ gần nhau nếu con của con nó sang ổ của con kia lập tức bị mẹ con khác tấn công ngay.

Sở thích: lợn rừng thích đùa nghịch, thích tắm vũng bùn hơn vũng nước, thích ăn những thứ cứng như củ, hạt.

Bài viết được tham khảo nguồn tài liệu từ tài liệu của Viện Chăn Nuôi

Đặc Điểm Sinh Học Của Lợn Rừng (Tổng Hợp)

POSTED ON November 9th  - POSTED IN TIN TỨC

Đặc Điểm Sinh Học Của Lợn Rừng

 

Đặc điểm nguồn gốc và nơi sống của lợn rừng

  • Lợn rừng ở châu Âu và ở châu Á được con người thuần hóa sớm nhất và chính chúng là nguồn gốc của các giống lợn được nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
  • Do lợn rừng phân bố trên phạm vi rất rộng, điều kiện sống rất khác nhau (khí hậu, thức ăn,…) nên tuy cùng gọi là lợn rừng nhưng chúng có sự khác biệt về màu sắc long, độ to nhỏ, sức lớn, sức sinh sản,…

Một số đặc điểm chung của lợn rừng

  • Lợn rừng châu Âu có tầm vóc khá hơn lợn rừng châu Á, có con nặng tới 200 – 300kg, cao tới 90 – 100cm, than dài 150 – 160cm. Còn lợn rừng châu Á phần lớn đều có màu da lông đen hoặc nâu xám; lông da khô; lông gáy dài và cứng. Lợn đực khi trưởng thành có răng nanh rất phát triển. Răng nanh hình tam giác màu trắng ngà. Đầu răng nanh nhọn, cong vểnh nên ở 2 bên mép.
  • Điều đặc biệt ở lợn rừng là vị trí của lỗ chân lông. Cứ 3 lỗ chân lông lại mọc chụm vào một chỗ như khóm lúa. Khi cạo lông đi chúng xuất hiện rất rõ. Đây là điểm phân biệt rõ nhất thịt lợn rừng với thịt lợn nhà.
  • Lợn rừng thường có tù 8 – 10 vú, hiếm thấy có lợn trên 12 vú. Và cũng như lợn nhà, lợn rừng cái 6 – 7 tháng tuổi, quãng 20 -27kg đã bắt đầ động dục. Động dục của lợn rừng cái thầm nặng hơn động dục của lợn nhà nên khó phát hiện. Chúng thường ít kêu rống, thích nằm một chỗ. Âm hộ sưng tấy màu đỏ (2 ngày đầu), rồi chuyển sang tím tái (ngày thứ3, thứ 4).
    Quá trình động dục diễn ra 3 – 4 ngày và nếu không được phối giống thì 20 – 22 ngày sau lại xuất hiện lần động dục mới (giống như lợn nhà). Nếu
    trong quá trình động dục, lợn cái nào “may mắn” gặp được lợn đực phối giống có kết quả thì nó trở thành lợn mang thai. Thời gian mang thai (thời gian chửa) cũng tương tự như lợn nhà: 112 – 116 ngày. Gần tới ngày đẻ, lợn mang thai sẽ tự tìm hoặc tự tạo ra hang hốc và kiếm lá cây khô, cỏ khô,… để làm ổ đẻ.
    Các hang đất hoặc hố đất làm ổ đẻ thường là nơi kín đáo, tĩnh mịch, ấm áp và khô ráo. Đây là chỗ để chúng bảo vệ đàn con. Đất pha cát là thích hợp nhất để lợn mang thai đào dũi làm ổ đẻ. Chúng rất hung dữ khi nuôi con. Lợn mẹ không muốn con người và các động vật khác biết ổ đẻ của nó.
  • Do sống hoang dã, mà lợn rừng có tốc độ lớn chậm, có khi 1 năm tuổi chúng mới chỉ nặng được 30 – 40kg. Khi lợn đạt từ 30kg/con trở lên, tốc độ lớn của lợn rừng càng chậm lại. Nhiều con lợn cái động dục và phối giống lần đầu lúc 7 – 8 tháng tuổi. Và chỉ nặng trên dưới 20kg. Vì vậy, lợn rừng thường có số con đẻ ra mỗi lứa thấp, từ 5 – 8 con. Lợn con sơ sinh rất nhỏ, chỉ vài ba lạng một con. Lợn con thường được lợn mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc tới khi lợn mẹ mang thai lần kế thiếp. Thời gian này khéo khi kéo dài tới 3 – 4 tháng. Do vậy, lợn rừng thường đẻ 1,2 – 1,3 lứa/năm. Nhưng nếu được thuần dưỡng và sớm tách đàn khi nuôi con, lợn rừng lại sinh sản rất mắn, khoảng 2 – 2,3 lứa/năm.
  • Cũng do cuộc sống hoang dã ở rừng nên chúng có thân hình hẹp, da dầy, bụng gọn, chân cao, chắc, đi đứng trên 8 ngón chân rất nhẹ nhàng, nhanh nhẹn. Thân hình lợn rừng rất thích hợp với việc đào bới cây củ, giun, dế,… dưới đất để kiếm ăn. Mõm lợn rừng nhọn, thẳng và chắc (lợn rừng Thái Lan còn có một loại mõm ngắn, thân ngắn). Nó rất phù hợp với việc đào hang hốc để ẩn náu, che mưa, che nắng,… Lợn rừng cũng rất dễ bị “giật mình” mỗi khi có tiếng động lạ, người lạ,… Nó thích được chạy nhảy tự do, thoải mái trên các bãi rộng rãi, có cây bóng mát. Vào những ngày nóng nực, lợn rừng cũng ưa được đầm tắm ở suối hoặc vũng nước.
  • Ở rừng, lợn đực rừng thường ưa sống một mình. Mỗi con đực ở tuổi trưởng thành có một “lãnh địa” riêng. Còn lợn cái thường sống thành từng đàn chừng 20 – 30 con.
  • Đến khi lợn cái động dục thì lợn đực mới tìm tới đàn nái để giao phối. Lợn rừng thường hoạt động, kiếm ăn về ban đêm. Ban ngày chúng thường ngủ trong các hang hốc do nó tự đào bới hoặc có sẵn trong rừng. Do nguồn thức ăn của lợn rừng chủ yếu là lá cây, quả, củ và do vận động nhiều nên thịt của chúng rất nạc, da dày nhưng giòn. Đó là nguồn thực phẩm rất hấp dẫn đối với người tiêu dùng hiện nay.

Người ta còn dùng mật lợn rừng (nhất là lợn rừng đực đã già) để làm thuốc và được coi như là mật gấu; dùng xương lợn rừng để nấu cao… Các đặc điểm sinh học kể trên cần được lưu tâm khi tiến hành nuôi lợn rừng.

(Bài viết được tham khảo từ tài liệu của Viện Công Nghệ, được đăng trên Tạp Chí Khoa Học Công Nghệ Chăn Nuôi số 25 – 8/2010)

Đọc thêm: Đặc điểm sinh học của lợn rừng Thái Lan

Cách Chọn Giống Lợn Rừng Phù Hợp

POSTED ON November 8th  - POSTED IN TIN TỨC

Cách Chọn Giống Lợn Rừng Phù Hợp

chon giong lon rung Cách Chọn Giống Lợn Rừng Phù Hợp

Nguồn Internet

Lợn rừng thường sống bầy đàn đông, khoảng 50 con, chúng sống dựa vào nhau để đảm bảo an toàn. Do vậy chúng không chịu nắng nóng nên thường thích kiếm ăn về đêm, thích ngâm mình dưới bùn để thải nhiệt, đuổi côn trùng, ký sinh trùng trên da. Hiện nay lợn rừng Thái Lan được thuần dưỡng tại nhiều cơ sở chăn nuôi và sử dụng các sản phẩm theo ý muốn của con người.

Vì thế, người chăn nuôi lợn rừng cần nắm vững một số đặc điểm chính để khi chọn giống tránh khỏi việc nhầm lẫn giữa các giống lợn nhà và các giống lợn nuôi khác đã và đang có trên thị trường nước ta hiện nay. Để nắm được những điều này, chúng ta cần tham khảo thêm các thông tin về lông, da, thân hình,… của lợn như thế nào.

Những đặc điểm ngoại hình của lợn rừng

chon giong lon rung 1 Cách Chọn Giống Lợn Rừng Phù Hợp

Nguồn Internet

  • Da: Rất dày, màu nâu, đen hoặc vàng nâu. Tai nhỏ dựng sát đầu. Mắt nhỏ, tinh anh. Mõm to nhưng gọn, chắc khỏe.
  • Lông: Mỗi gốc lông chứa 3 lông. Cấu trúc lông cứng, nhám. Lông mọc dày. Lông bờm cứng đậm màu và mọc dài hơn các phần lông khác trên cơ thể. Lông bờm mọc kéo dài từ đỉnh đầu đến gần mông sau của thân. Lông lợn sơ sinh có sọc vằn nâu vàng, vàng hoặc trắng trên nền da đen, nâu. Có sự thay đổi màu lông khi hết 3 tháng tuổi.
  • Thân hình: Gọn chắc, thon dài. Phần vai nhô cao hơn phần mông. Chân nhỏ cao, nhanh nhẹn. Đuôi dài hay ve vẩy.

Chọn giống lợn rừng hiện chưa có phương pháp chuẩn xác, giống lợn rừng hiện nay khá đa dạng, chưa ổn định về số lượng và chất lượng, có nhiều nguồn giống nhập khẩu tiểu ngạch từ các nước và nhiều giống bản địa chưa được thống kê hết.

Chú ý thêm khi chọn là chọn những con đầu thanh, ngực sâu, mình nở, hoạt bát, lưng thẳng, bụng gọn, bốn chân chắc khỏe, bộ phận sinh dục phát triển và hoạt động tốt. Nếu có điều kiện nên chọn lọc qua đời trước (dòng, giống bố mẹ, ông bà…), qua bản thân (ngoại hình, khả năng thích nghi, khả năng SX…) và qua đời sau.

chon giong lon rung 2 Cách Chọn Giống Lợn Rừng Phù Hợp

Nguồn Internet

Để có ví dụ, người chăn nuôi có thêm tham khảo bài viết của chúng tôi tại đây

Sau khi đã chọn giống cho lợn một cách phù hợp, người chăn nuôi cần để ý thêm về các phối giống và thời điểm nào phối giống phù hợp nhất.

Phối Giống Cho Lợn Rừng Sau Khi Chọn Giống

Chu kỳ động dục của lợn rừng là 21 ngày, thời gian động dục kéo dài 3-5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 hoặc đầu ngày thứ 3 (tùy giống và tuổi) cho nên cần theo dõi biểu hiện của lợn. Khi âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang màu hồng tái, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra nhiều, tai chĩa về phía trước, có phản xạ đứng im (mê ì) là thời điểm phối giống thích hợp nhất.

Bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên, vì cơ thể chưa hoàn thiện, trứng rụng ít, phối giống, đậu thai hiệu quả thấp. Khi lợn cái có dấu hiệu động dục ta cho lợn đực tiếp xúc với lợn cái. Heo đực sẽ phối giống liên tục, bất kể ngày đêm đến khi nào lợn cái không chịu nữa mới thôi. Có thể cho phối kép 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát (hoặc ngược lại). Sau 21 ngày, lợn cái không động dục trở lại, có thể lợn cái đã có bầu.

(Thông tin của bài có tham khảo từ  Báo Nông nghiệp VN số 207 ra ngày 18/10/2011)

Đặc điểm của lợn rừng Thái Lan

POSTED ON November 7th  - POSTED IN TIN TỨC

Một số đặc điểm của lợn rừng Thái Lan

Ngày nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của nhân dân ngày càng cao, đặc biệt là các loại thịt đặc sản quý hiếm. Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập, ngành chăn nuôi đang được nhà nước quan tâm đầu tư phát triển. Trong chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp thì việc đổi mới cơ cấu giống và đa dạng hoá các nguồn gen vật nuôi là một trong những vấn đề đang được Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNT quan tâm.

 

dac diem lon rung thai lan Đặc điểm của lợn rừng Thái Lan

Đặc điểm của lợn rừng thái lan

Để đáp ứng nhu cầu thị trường các giống gia sĩc bản địa và hoang dã đang được các nhà chăn nuôi đầu tư và khai thác những đỉặc tính quý, một trong những động vật hoang dã được nhiều người Việt Nam ưa chuộng đó là lợn rừng. Thuần hóa lợn rừng, lai tạo với lợn nhà đang được nhiều trang trại và các cơ sở chăn nuôi của nước ta nghiên cứu và ứng dụng. Người chăn nuôi ở Việt Nam biết và quan tâm đến các giống vật nuôi của Thái Lan trong đó có lợn rừng đã được thuần dưỡng và lại tạo ở các cơ sở chăn nuôi cđa họ. Lợn rừng thuần dưỡng của Thái Lan đang rất được người chăn nuôi và người tiêu dùng ưa chuộng do những đặc tính ưu việt: thịt thơm ngon, ít mỡ, nhiều nạc giá trị cao nhưng đầu tư thấp, chi phí thức ăn ít, thời gian nuôi ngắn, dễ nuôi, sinh sản tốt, tỷ lệ sống cao và ít bệnh tật.

Đặc điểm chính của lợn rừng Thái Lan

Lợn rừng thường sống theo bầy đàn đông đến 50 con, sống dựa vào nhau để đảm bảo an toàn. Vì lợn rừng không chịu nắng nóng nên thường thích kiếm ăn về đêm, thích ngâm mình dưới bùn để thải nhiệt, đuổi côn trùng, ký sinh trùng trên da. Hiện nay lợn rừng Thái Lan được thuần dưỡng tại nhiều cơ sở chăn nuôi và sử dụng các sản phẩm theo ý muốn của con người.

Lợn rừng Thái Lan có thân hình thon, mình mỏng, dáng cao, mặt nhọn hình tam giác, mõm dài, tai dựng đứng, nhỏ, mắt lồi trông dữ tợn, ở má có vệt lông màu trắng chạy vắt qua mũi. Mũi chúng rất thính, linh hoạt, mềm nhưng rất khỏe (lợn thường dùng mũi để đào bới, tìm thức ăn).

 

dac diem lon rung thai lan 2 Đặc điểm của lợn rừng Thái Lan

Đặc điểm của lợn rừng thái lan 2

Con cái trưởng thành nặng 90 – 100 kg, con đực: 100 – 120 kg. Con đực có 4 nanh dài chĩa ra ngoài là phương tiện để kiếm thức ăn và là vũ khí lợi hại thể hiện sức mạnh của nó. Lông lợn rừng dài, cứng, màu lông nâu hoặc đen. Thường lỗ chân lông thành búi lông, mỗi búi có 3 gốc lông nhưng mỗi lỗ có 1 lông. Lông bờm màu đen đậm, mọc từ gáy dọc theo sống lưng cho đến mông. Đuôi nhỏ, ngắn, chỉ dài đến khoeo chân. Chân lợn rừng nhỏ thon, móng nhọn. Vai cao hơn hông. Lợn rừng cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm vú, da rất dày. Số lợn sơ sinh: 6-10 con/ổ, lợn con có bộ lông giống trái dưa gang (vệt lông màu trắng chạy dọc thân trên nền da màu đen hoặc nâu). Khi lợn trên 2 tháng tuổi, các vệt sọc này không còn nữa. Tại Thái Lan có 2 giống lợn rừng: nhóm giống mặt dài và nhóm mặt ngắn.

Sinh sản và sinh trưởng của lợn rừng Thái Lan

Lợn rừng Thái Lan 7 – 8 tháng tuổi có thể trọng 40 – 60kg (với lợn cái có thể cho phối giống). Thời gian mang thai giống lợn nhà (khoảng 114 ngày). Thời gian đẻ (từ con đầu đến con cuối) 2 – 4 giờ. Quá trình đẻ diễn ra theo tự nhiên, không cần sự giúp đỡ hoặc can thiệp của con người. Lợn rừng đẻ 2-2, 5 lứa/ năm, lứa đầu (con so) đẻ 3 – 5 con, lứa rạ đẻ nhiều hơn (7 – 12 con). Lợn rừng sơ sinh có tầm vóc nhỏ, khối lượng bình quân 0,5 – 0,9kg/con. Lợn 1-2 tháng tuổi: 5 – 10kg, 3 – 4 tháng tuổi: 15 kg-20kg, 8-12 tháng: 60 – 70 kg, khi trưởng thành: trên 100 kg.

 

dạc diem lon rung thai lan 3 Đặc điểm của lợn rừng Thái Lan

Đặc điểm của lợn rừng thái lan 3

 

Thức ăn của lợn rừng thái lan

Lợn rừng Thái Lan là loài ăn tạp, dạ dày đơn, hệ thống tiêu hóa của động vật hoang dã nên có khả năng lợi dụng thức ăn tốt. Lợn rừng trong điều kiện hoang dã còn ăn cả côn trùng, giun, xác động vật chết hoặc bất kỳ thứ gì trong môi trường tự nhiên mà nó kiếm được.

Chính vì vậy khi lợn rừng được nuôi trong trang trại, nó có khả năng ăn và sử dụng có hiệu qủa nhiều loại thức ăn có trong tự nhiên hơn bất kỳ vật nuôi nào mà con người đã có. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợn rừng ăn tất cả các loại thực vật như rau, quả thường dễ kiếm như cây chuối, hoa chuối, bẹ chuối, rau muống, rau đắng, ngọn mía, bèo tây, lá rau lấp, ngô hạt, ngô bắp, cây ngô, củ sắn,  khoai tây, măng tre, cỏ tươi, xoài, dưa hấu, vỏ mít, rau sống v.v . Các loại rau trồng, rau dại, phần bỏ đi  của tất cả các loại rau sau khi mua bán loại ra ở chợ đều có thể làm thức ăn cho lợn rừng.

Nguồn: http://www.vcn.vnn.vn/PrintPreview.aspx?ID=2753

Thức Ăn Của Lợn Rừng (Phần 2)

POSTED ON November 6th  - POSTED IN TIN TỨC

Phần đầu: Thức Ăn Của Lợn Rừng  (Phần 1)

– Đối với lợn con khi bú mẹ:

Thuc an cho lon rung 21 Thức Ăn Của Lợn Rừng (Phần 2)

Sau khi sinh khoảng 20 ngày lợn con bắt đầu tập ăn, khi thấy lợn con nhấm nháp, liếm chậu ăn của lợn mẹ thì mua loại cám nhặt cho lợn con ăn. Cần kiểm soát không để lợn con ăn những thức ăn tươi sống như vậy lợn con rất dễ bị đi ỉa chảy. Sau 1 tháng lợn con bắt đầu ăn mạnh, vì vậy cần tăng lượng cám nhặt cho chúng. Sau 1,5 tháng bắt đầu cho lợn con tập ăn dần với các thức ăn tươi sống nhưng phải kiểm soát thật tốt nguồn thức ăn này. Sau 2 tháng tuổi nên tách mẹ để lợn mẹ hồi phục thể trạng và động dục. Thời gian đầu khoảng 1 tháng sau khi tách mẹ nên cho lợn con ăn nhiều chất tinh, 60% thức ăn tinh, 40% thức ăn thô, sau đó chuyển sang chế độ nuôi thương phẩm.

Sau hơn 1 tháng lợn con bắt đầu làm quen với các thức ăn tươi sống có thể cho chúng ăn một số loại rau cỏ tốt cho tiêu hóa như thân cây chuối chặt nhỏ, không cho lợn ăn rau lang, rau muống trong thời gian này dễ bị đi ỉa.

– Thức ăn với lợn giống:

Thuc an cho lon rung Thức Ăn Của Lợn Rừng (Phần 2)
Để cho lợn mau lớn và nhanh đạt được trọng lượng tiêu chuẩn để động dục, khi tách mẹ hoặc mua về làm giống nên cho lợn ăn nhiều cám tăng trọng. 40% các loại cám gạo, 40% loại cám tăng trọng và 20% thức ăn thô (rau, củ, quả). Với chế độ ăn uống như thế này thì lợn có thể đạt 7 – 8 kg/1 tháng. Thông thường lợn đạt từ 25 – 30 kg là bắt đầu động dục đối với lợn rừng Việt lai Thái và 50 – 60 kg đối với lợn rừng Thái Lan thuần. Đối với lần đầu động dục không nên cho phối giống, vì trong lần đầu trứng rụng chưa nhiều và chất lượng trứng chưa hoàn thiện. Vào lần động dục thứ 2 thì có thể được phối giống.

– Thức ăn cho lợn bố:

Khẩu phần thức ăn cho của lợn bố: 20% là thức ăn tinh, 80% là thức ăn thô, toàn bộ cho ăn sống. Lợn bố cần được bồi bổ trước khi phối giống như: cho ăn một vài quả trứng gà, vịt; hòa cám gạo, bột ngô cho ăn.

– Đối với lợn thương phẩm:

Để đảm bảo uy tín và có chất lượng thịt tốt nhất thì phải kiểm soát được khẩu phần ăn của lợn nuôi thương phẩm. Khi lợn con tách mẹ để nuôi thương phẩm cần thực hiện chế độ ăn như sau: 10% thức ăn tinh, 90% thức ăn thô, toàn bộ cho ăn sống. Nếu dồi dào về nguồn thức ăn thì có thể cho ăn 100% thức ăn thô, như vậy vẫn đảm bảo được sự tăng trưởng của lợn và chất lượng thịt. Thực hiện chế độ ăn này sau 2 – 3 tháng nuôi, lợn sẽ đạt ít nhất 95 – 97% là thịt nạc, thịt thơm ngon tự nhiên.

Tìm hiểu thêm thông tin tại: http://www.banlonrung.vn/tin-tuc

Thức Ăn Của Lợn Rừng (Phần 1)

POSTED ON November 6th  - POSTED IN TIN TỨC, TƯ VẤN CHĂN NUÔI

Thức ăn của lợn rừng (Phần 1)

Thức ăn dành cho lợn rừng rất trong quan trọng để có thể giúp lợn rừng mau lớn và đạt được trong lượng cần thiết để có thể động dục được. Dưới đây, chúng tôi cung cấp cho các bạn những thông tin cơ bản về những thức ăn cần thiết cho sự phát triển của lợn rừng nói chung.
Đối với mỗi loại lợn khác nhau sẽ có những thức ăn phù hợp khác nhau. Đối với lợn giống sẽ có thức ăn A, lợn mẹ sẽ có thức ăn B, lợn bố sẽ có thức ăn C,…

Thuc an cho lon rung 2 Thức Ăn Của Lợn Rừng (Phần 1)

Thức ăn của lợn rừng được chia làm hai loại chính:

– Loại 1 – Thức ăn thô gồm thân cây ngô non, rau muống, rau lấp, bèo tay, cây chuối, bẹ chuối, các loại quả xanh v.V…

– Loại 2 – Thức ăn tinh: đây là loại thức ăn ít chất xơ và có thành phần dinh dưỡng cao hơn thức ăn thô. Nó bao gồm: Gạo, cám, ngô, đậu, khoai, sắn v.v. Ứng với từng giai đoạn ta phải bố trí lượng thức ăn cho phù hợp và khống chế khẩu phần.

Đối với lợn mẹ đang trong thời kỳ nuôi con:

Trong thời gian đầu khi lợn mẹ không mang thai ta tiến hành cho ăn khẩu phần ăn bình thường 20% thức ăn tinh (như cám gạo, bột ngô…), 80% còn lại là thức ăn thô (như rau, củ, quả…). Tất cả các thức ăn của lợn mẹ đều cho ăn sống và ngày chia làm 2 bữa chính sáng và chiều tối, ăn phụ vào bữa trưa (rau, củ, quả).

Tại thời kỳ mang thai thì tăng lên khẩu phần ăn của lợn mẹ trong thời kỳ mang thai, cụ thể: 30% thức ăn tinh và 70% thức ăn thô. Chú ý tòan bộ cho ăn sống.

Tại thời kỳ nuôi con, thức ăn lúc này của lợn mẹ sẽ có một sự thay đổi, nhất là tháng đầu nuôi con, chỉ cho lợn mẹ ăn thức ăn tinh như cám gạo, bột ngô hòa với nước sạch + muối và bổ sung thêm các vi lượng, men tiêu hóa dành cho lợn mẹ nuôi con thì càng tốt, không phải nấu chín thứ ăn, ngày được chia làm 3 bữa: sáng, trưa, chiều tối.

Cần chú ý: 
– Không được cho lợn mẹ ăn một số thức ăn trong thời gian này như: Các loại rau, củ, quả (rau muống, rau lang, hoa quả ôi thối…). Sau 1 tháng nuôi con bắt đầu cho lợn mẹ ăn một số loại thức ăn như: (thân cây chuối, rau muống… với điều kiện phải kiểm soát được nguồn thức ăn đó không có độc hại và cho ăn dần dần, không nên cho ăn nhiều ngay dễ làm cho lợn con bú mẹ không thích nghi gây đi ỉa.
– Ngay cả lợn mẹ trong thời kỳ mang thai thì thức ăn vẫn bao gồm 70 – 80 % là chất sơ (rau, củ, quả).

(còn tiếp…)

Phần tiếp theo: Thức ăn của lợn rừng (Phần 2)

Back to Top